Ung thư ruột

Ung thư ruột là loại u ác tính thường gặp ở đường ruột và dạ dày, tỷ lệ mắc bệnh chỉ đứng sau ung thư dạ dày và ung thư thực quản, hằng năm có tới 930000 ca mới mắc ung thư ruột. Tuyệt đại đa số bệnh nhân ung thư ruột là trên 40 tuổi, bệnh nhân dưới 30 tuổi chiếm 15%. Ung thư ruột thường gặp nhiều ở nam giới, tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ là 2-3:1.

Ung thư ruột có những nguy hiểm gì?

Ung thư ruột uy hiếp nghiêm trọng đến sức khoẻ và tính mạng của con người, khi mắc phải ung thư ruột tức là đang có nhiều nguy hiểm. Do khoang ruột ở đường ruột trái khá hẹp, khi phân đi qua sẽ bị dính lại, hơn nữa ung thư ở vị trí này thường là ung thư dạng xâm lấn. Mà khoang ruột là vòng hẹp nên bệnh nhân ung thư ruột ở giai đoạn đầu thường có hiện tượng tắc ruột, lúc nặng còn xuất hiện hiện tượng tắc ruột cấp tính.

Mà khoang ruột ở đường ruột bên phải thì khá rộng, phân đi qua đó sẽ loãng, hơn nữa vận chuyển máu ruột kết, nhiều hạch, khả năng hấp thu mạnh sẽ hấp thu những độc tố có trong phân. Tế bào trong khối u ác tính đường ruột đa số là ung thư mềm, rất dễ bị loét, hoạ tử, từ đó dẫn đến xuất huyết đường ruột gây viêm nhiễm. Về lâm sàng chủ yếu là triệu chứng trúng độc. khi nghiêm trọng có thể xuất hiện hiện tượng tắc ruột.

Do tế bào ung thư của ung thư đường ruột bị vỡ và mất máu, độc tố bị hấp thụ, từ đó dẫn đến bệnh nhân ung thư ruột xuất hiện các triệu chứng thiếu máu, sốt, mệt mỏi, gẩy yếu và phù thũng toàn thân. Những nguy hiểm mà ung thư ruột đem đến cho bệnh nhân chủ yếu là thiếu máu, gầy yếu.

ung thư ruột 2

Ung thư đại trực tràng là gì?

Ung thư đại trực tràng hay còn gọi chung là “ung thư đại tràng và ung thư trực tràng”, dùng để chỉ ung thư có nguồn gốc trên biểu mô của đại tràng, bao gồm ung thư kết tràng và ung thư trực tràng, loại bệnh lý thường gặp nhất là bướu u tuyến, ít gặp nhất là ung thư biểu mô tế bào vảy. Tỷ lệ măc ung thư đại trực tràng từ cao đến thấp theo thứ tự là trực tràng, đại tràng sigma, ruột thừa, kết tràng trên, kết tràng dưới và kết tràng ngang.

Trên phạm vi toàn cầu , ung thư đại trực tràng là khối u ác tính phổ biến thứ ba, theo dự án GLOBOCAN của Trung tâm Nghiên cứu Ung thư WHO, ước tính số người mắc ung thư đại trực tràng lên đến khoảng 1.8 triệu người, số người tử vong là khoảng 880.000 người.

Sự xuất hiện của ung thư đại trực tràng có liên quan đến chế độ ăn uống có nhiều chất béo và ít chất xơ, viêm ruột mãn tính, u tuyến đường ruột, các yếu tố di truyền, bệnh đường tiêu hóa, chất gây ung thư hóa học và các yếu tố khác như bệnh sán máng, bức xạ vùng chậu và các yếu tố môi trường khác ( như thiếu molypden trong đất), hút thuốc,v..v

Như vậy, ung thư đại trực tràng giai đoạn cuối có thể chữa khỏi được không? Phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu tạo ra vết thương nhỏ, ít tác dụng phụ và đem lại hiệu quả tốt có thể giúp bệnh nhân giữ lại mô gan, tránh phải phẫu thuật cắt bỏ và tránh những cơn đau do hóa, xạ trị truyền thống.

Nếu bạn được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng, chúng tôi ở đây sẵn sàng trợ giúp bạn, hãy liên hệ trực tuyến với chúng tôi.

Phương pháp điều trị ung thư đại tràng

1. Phẫu thuật: phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thư đại tràng thường gặp, thông thường khi phát hiện ở giai đoạn đầu thường dùng phương pháp điều trị là phẫu thuật cắt bỏ khối u. Trong đó bao gồm: phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn, phẫu thuật cắt bỏ cục bộ khối u, phẫu thuật cắt bỏ tạm thời, phẫu thuật cắt bỏ theo đoạn và phẫu thuật cắt bỏ các nội tạng liên quan. Nhưng sau khi điều trị ung thư đại tràng bằng phẫu thuật thì thường sót lại những tế bào ung thư nên dễ dẫn đến tái phát.

2. Xạ trị: xạ trị được biết đến như là phương pháp hỗ trợ điều trị sau phẫu thuật, có thể làm giảm tỷ lệ tái phát của ung thư đại tràng.

3. Hoá chất trị liệu: sau khi điều trị bằng phẫu thuật, dùng hoá chất để tiến hành điều trị các ổ bệnh còn sót lại, có thể tránh được sự tái phát và lây lan của tế bào ung thư, nhưng trong quá trình điều trị bằng hoá chất sẽ có một số tác dụng phụ không mong muốn.

Điều trị ung thư ruột bằng kỹ thuật xâm nhập tối thiểu

1. Liệu pháp miễn dịch sinh học: liệu pháp miễn dịch sinh học có các ưu điểm như không làm tổn thương đến cơ thể, không đau và không cần nhập viện, có thể làm giảm các tác dụng phụ cho bệnh nhân ung thư ruột do hoá trị và xạ trị đem lại, và còn có thể nâng cao khả năng miễn dịch và chất lượng sống cho bệnh nhân, và phương pháp này phù hợp với tất cả các bệnh ung thư khác.

2. Điều trị bằng Đông y: điều trị ung thư ruột bằng Đông y có thể cải thiện các triệu chứng, nâng cao sức đề kháng cho bệnh nhân, làm giảm các tác dụng phụ của hoá trị và xạ trị, nâng cao hiệu quả điều trị ung thư ruột.

3. Liệu pháp gene trúng đích: liệu pháp gene trúng đích có thể dựa vào sự khác biệt của các khối u để đưa ra các loại thuốc điều trị tương ứng, sau khi thuốc vào trong cơ thể bệnh nhân sẽ tự động đi đến vị trí tế bào ung thư và phát huy tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư mà không ảnh hưởng đến các tổ chức khoẻ mạnh xung quanh khối u. So với các phương pháp điều trị truyền thống, thì liệu pháp điều trị gen trúng đích chính xác và hiệu quả điều trị tốt hơn và an toàn hơn.

Các triệu chứng của ung thư đại trực tràng:

Ung thư đại trực tràng không có triệu chứng ở giai đoạn đầu hoặc triệu chứng không rõ ràng. Với sự phát triển của ung thư, các triệu chứng dần dần xuất hiện, biểu hiện các triệu chứng và triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy thuộc vào vị trí phát triển khác nhau như:

1. Ung thư đại tràng: Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là khối u ở bụng, chán ăn, buồn nôn, thiếu mái, mệt mỏi, tắc nghẽn ruột dẫn đến thay đổi thói quen đại tiện, táo bón, có máu trong phân, tiêu chảy, đau bụng, đau quặn bụng, chướng bụng, v.v.

2. Ung thư trực tràng: các triệu chứng lâm sàng như trong phân có máu, thay đổi thói quen đại tiện.

3. Khối u lây lan tại chỗ: ung thư đại trực tràng xâm lấn các mô và cơ quan xung quanh, gây ra các triệu chứng tương ứng. Ung thư trực tràng xâm lấn đám rối thần kinh xương cùng có thể gây đau dai dẳng ở vùng thắt lưng cùng, xâm lấn tuyến tiền liệt và bàng quang, có thể gây tiểu máu, đi tiểu nhiều, tiểu gấp.

4. Triệu chứng di căn của khối u: Ung thư đại trực tràng có thể theo đường máu truyền đến gan, phổi, xương và các bộ phận khác, nếu di chuyển đến gan có thể gây tổn thương chức năng gan và vàng da, khi di chuyển đến phổi, khó thở, nhức đầu và chóng mặt sẽ xảy ra những cơn đau, v.v.

Nếu bạn được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng, chúng tôi ở đây sẵn sàng trợ giúp bạn, hãy liên hệ trực tuyến với chúng tôi.

Dấu hiệu của ung thư đại trực tràng:

Việc chuẩn đoán ung thư đại trực tràng thường liên quan đến việc sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp, sau đây là các phương pháp chuẩn đoán phổ biến:

1. Kiểm tra sức khỏe:

Để tiến hành kiểm tra trực tràng, bác sĩ sẽ đưa ngón trỏ vào hậu môn của bệnh nhân để kiểm tra xem có khối u trong trực tràng không. Khám trực tràng kĩ thuật số có thể phát hiện ung thư trực tràng  60-70%, phương pháp kiểm tra này đơn giản, tiết kiệm và hiệu quả.

2. Khám nội soi:

Xét nghiệm nội soi có thể chẩn đoán bệnh lý thông qua xét nghiệm sinh thiết, đây là cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch điều trị.Theo phạm vi và các bộ phận có thể kiểm tra bằng kính nội soi được chia thành: nội soi hậu môn, nội soi đại tràng sigma và nội soi đại tràng. Nội soi chủ yếu bao gồm nội soi điện tử, nội soi sắc ký và siêu âm.

3. Xét nghiệm:

Xét nghiệm máu ẩn trong phân: là phương pháp sàng lọc chính trong ung thư đại trực tràng;

Kiểm tra dấu hiệu của khối u: kháng nguyên tế bào ung thư (CEA) và CA19-9 là dấu hiệu khối u quan trọng cần được phát hiện ở ở bệnh nhân mắc ung thư đại tràng;

Hóa mô miễn dịch và theo dõi di truyền: khuyến nghị nên kiểm tra để phát hiện những protein sửa chữa không khớp (MLH1、MSH2、MSH6、PMS2), khối u K-ras, N-ras, tình trạng gen BRAF, tình trạng thiếu hụt sửa chữa không khớp (dMMR) và sự mất ổn định của vi vệ tinh mô khối u (MSI).

4. Khám qua hình ảnh:

Chụp X-quang kép tương phản (Bari X-ray): là phương pháp kiểm tra phổ biến và tiết kiệm nhất để chuẩn đoán ung thư đại tràng;

CT: là phương pháp quan trọng để xác định giai đoạn ung thư đại trực tràng trước khi phẫu thuật, cho thấy rõ ràng mức độ xâm lân của ung thư đại trực tràng và di căn của hạch bạch huyết;

MRI: có thể cho thấy rõ các tế bào ung thư và sự xâm lấn của các mô xung quanh, thường kết hợp với chụp CT;

PET-CT: Chủ yếu được sử dụng cho những bệnh nhân ung thư đại trực tràng nghi ngờ đã di căn xa, để thấy được tình trạng chung và sàng lọc khối u di căn.

Nếu bạn được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng, chúng tôi ở đây sẵn sàng trợ giúp bạn, hãy liên hệ trực tuyến với chúng tôi.

Các giai đoạn của ung thư đại trực tràng:

Các giai đoạn của ung thư đại trực tràng được xác định chủ yếu dựa trên độ sâu của khối u và có hay không sự sự di căn của khối u.

Giai đoạn I (giai đoạn đầu):

0:TisN0M0, tân sinh nội biểu mô cao cấp, nghĩa là ung thư biểu mô tại chỗ hoặc ung thư biểu mô trong niêm mạc;

Ⅰ:T1N0M0, ung thư xâm nhập vào dưới lớp niêm mạc mà không có di căn hạch bạch huyết hoặc di căn xa. T2N0M0, ung thư đã xâm lấn lớp cơ , không di căn hạch bạch huyết, không di căn xa;

Giai đoạn II:

II A: T3N0M0, ung thư đã xuyên qua lớp ngoài của đại trực tràng, không di căn hạch bạch huyết, không di căn xa;

II B: T4N0M0, ung thư đã xâm nhập vào cơ quan và cấu trúc lân cận,không di căn hạch bạch huyết, không di căn xa;

Giai đoạn III:

ⅢA:T1-T2N1M0, ung thư đã phát triển dưới lớp niêm mạc hoặc lớp cơ, xâm lấn 1-3 hạch bạch huyết gần đó, không di căn xa;

ⅢB:T3-T4N1M0, ung thư đã xâm lấn qua thành đại trực tràng hoặc các cơ quan lân cận, xâm lấn 1-3 hạch bạch huyết, không di căn xa;

ⅢC:Bất kì TN2M0 đã phát triển qua lớp ngoài cùng của đại trực tràng, xâm lấn trên 4 hạch bạch huyết, không di căn xa;

Giai đoạn IV ( Giai đoạn cuối)

IV: Bất kỳ T bất kỳ NM1, khối u xâm lấn bất kỳ qua đại trực tràng, không di căn hạch bạch huyết, có di căn xa như gan, phổi, phúc mạc, buồng trứng,.v.v

Nếu bạn được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng, chúng tôi ở đây sẵn sàng trợ giúp bạn, hãy liên hệ trực tuyến với chúng tôi.

 


từ khóaก:
ZALO ZALO BACKTOP

 zalo

Tư vấn trực tuyến